Các trường phái công chứng trên thế giới

Do nhiều lý do trên thế giới, trong lĩnh vực công chứng đã hình thành ba trường phái công chứng: La tinh, Anglo-Sacxon, nhà nước bao cấp.

18/10/2021 - 21:23 GMT+7
 0
 597
Theo dõi DocLuat trên Google News

Mục lục

1. Công chứng La tinh

2. Công chứng Anglo-Sacxon

3. Công chứng nhà nước bao cấp

      3.1. Mô hình tổ chức và hoạt động

      3.2. Hạn chế của hệ thống công chứng bao cấp

4. Việt Nam thuộc trường phái công chứng nào

Do nhiều lý do khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo của các quốc gia, trên thế giới, trong lĩnh vực công chứng đã hình thành, tổn tại ba trường phái công chứng, gồm công chứng La tinh, công chứng Anglo-Sacxon, công chứng nhà nước bao cấp. Ở mỗi trường phái có những mặt tích cực, hạn chế thể hiện trong các chế định về tổ chức, hoạt động và cả những thuận lợi, khó khăn trong triển khai thực hiện.

1. Công chứng La tinh

Hệ thống công chứng La tinh được hình thành và tổ chức từ những năm 40 của thế kỷ XX. Cơ sở pháp lý để áp dụng trong hành nghề của công chứng viên là Luật La mã và luật viết châu  Âu lục địa. Ở mỗi nước tham gia hệ thống có các tổ chức hành nghề công chứng để đảm bảo nhu cầu của xã hội. Về sau, trước sự phát triển trong hội nhập của thế giới, những tổ chức hành nghề công chứng ở mỗi quốc gia được liên kết lại với nhau trong các tổ chức nội bộ dưới dạng Hội đồng hoặc hiệp hội nghề nghiệp công chứng. Trong quan hệ hợp tác quốc tế, công chứng một số nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Á, trong đó có cả một số nước khác như Liên hiệp Vương quốc Anh, Đan Mạch đã liên kết, tập hợp, phối hợp với nhau trong một tổ chức được gọi là Liên minh công chứng La tinh quốc tế (dưới đây xin gọi tắt là UTNL). Đây là một tổ chức phi chính phủ, tổ chức đại hội lần thứ nhất vào ngày 02 tháng 10 năm 1948 và quyết định đặt trụ sở tại thành phố Buenot Airet là thủ đô của Argentina. UTNL phấn đấu và cố gắng để đạt được các mục tiêu trong hoạt động gồm:

- Đại diện quyền lợi cho các tổ chức công chứng thành viên bên cạnh các tổ chức quốc tế.

- Nghiên cứu luật pháp công chứng trên các lĩnh vực khác nhau để tạo ra sự đồng bộ trong thực thi pháp luật.

- Thực hiện hợp tác quốc tế trong hoạt động công chứng đối với các tổ chức quốc tế khác và đối với các nước.

- Tuyên truyền nguyên tắc hoạt động công chứng theo mô hình La tinh.

- Thực hiện xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành dưới dạng tạp chí thường kỳ.

- Tổ chức các đại hội thường kỳ hoặc bất thường (khi xét thấy cần thiết).

Đại hội đồng thành viên là cơ quan cao nhất của UTNL. Ngoài ra, bộ máy còn có Hội đồng thường trực, Hội đồng kiểm tra tài chính; Ban thư ký thường trực và một số cơ quan chuyên môn như Ủy ban tài chính, Ủy ban hợp tác quốc tế, Ủy ban các vấn đề xã hội. .

Công chứng viên thuộc các nước thành viên của UTNL được nhà nước bổ nhiệm căn cứ theo tiêu chuẩn và được sử dụng con dấu trong hành nghề theo quy định của pháp luật. Người có thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên có thể là người đứng đầu nhà nước hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhà nước trao cho công chứng viên quyền công chứng, do đó họ vừa là ủy viên công quyền vừa là người cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Về hoạt động hành nghề, công chứng viên tự tổ chức văn phòng và điều hành hoạt động của văn phòng và trong trường hợp gặp rủi ro thì phải tự chịu trách nhiệm trong việc bồi thường khi có thiệt hại xảy ra. Nhà nước bổ nhiệm công chứng viên để họ hành nghề tự do nhưng phải chịu sự quản lý của nhà nước thông qua việc kiểm soát, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, theo luật định.

Việc tổ chức hoạt động nghề nghiệp của các công chứng viên trong Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế cho phép các công chứng viên có thể liên kết với nhau trong một công ty dân sự để hoạt động nghề nghiệp.

Ví dụ, các công chứng viên có thể thành lập công ty hợp danh để cùng chung nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động chuyên môn. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã cho phép công chứng viên hợp tác để tổ chức Văn phòng công chứng và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh (khoản 1 Điều 22 Luật Công chứng năm 2014).

Về mặt tài chính, hoạt động của công chứng viên, của Văn phòng công chứng theo cơ chế tự chủ hoàn toàn về tài chính và phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp cho nhà nước. Việc thu phí công chứng được nhà nước ấn định mức thu thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài chức năng công chứng, công chứng viên trong hệ thống công chứng La tinh có thể là người tham gia việc giám định, môi giới bất động sản và tư vấn cho khách hàng. Trong hoạt động của công chứng Cộng hòa Pháp, vai trò môi giới bất động sản và tư vấn của công chứng viên cho khách hàng rất được chú ý và đánh giá cao. Các yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu công chứng) sẽ được thỏa mãn sau khi có sự tư vấn của công chứng viên. Mặt khác, muốn tư vấn tốt, công chứng viên phải tìm tòi, tham khảo và xác định chính xác các vấn đề thuộc nội dung tư vấn liên quan đến đối tượng của hợp đồng, giao dịch cho người yêu cầu công chứng. Về vai trò này, công chứng viên ở Việt Nam mới chỉ thực hiện được một số khâu, mà chủ yếu chỉ là việc phổ biến quy định của pháp luật, nói rõ quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến việc giao kết hợp đồng. Còn lại, vai trò tham gia giám định và môi giới bất động sản không được Luật quy định cho công chứng viên.

Thông qua tư vấn, phân tích và hòa giải các vướng mắc giữa các bên, có trường hợp, công chứng viên đã trở thành người trọng tài cho người yêu cầu công chứng.

Văn bản công chứng với giá trị là chứng cứ và giá trị thi hành, hơn thế nữa nó là văn bản liên quan đến vận mệnh nghề nghiệp của công chứng viên. Trong hệ thống công chứng La tinh đã có quy định ngặt nghèo bắt buộc công chứng viên phải lưu trữ hồ sơ công chứng (bao gồm văn bản công chứng và hồ sơ đi kèm văn bản công chứng).

2. Hệ thống công chứng Anglo-Sacrom

Ở hệ thống này, trong hoạt động nghiệp vụ liên quan và khi thực hiện công chứng, công chứng viên không quan tâm đến nội dung văn bản mình công chứng. Vì vậy, đã có ý kiến cho rằng đây là loại hình công chứng hình thức.

Nhà nước không bổ nhiệm chức danh để hoạt động công chứng chuyên nghiệp. Chức năng công chứng được giao cho hộ tịch viên (quan chức hộ tịch), luật sư... Như vậy, họ là các công chứng viên không chuyên nghiệp. Mặt khác, phạm vi các việc công chứng không được quy định rõ ràng, cụ thể.

Khi thực hiện công chứng, công chứng viên chỉ nhận diện đúng người yêu cầu công chứng theo giấy tờ của họ đã xuất trình; xác nhận về thời gian, địa điểm công chứng; ghi nhận trong văn bản về sự kiện pháp lý, sự thỏa thuận của các bên.

Trong nội dung hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản, công chứng viên không quan tâm đến tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng; không quan tâm đến thỏa thuận của các bên có trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội không. Vì vậy, công chứng viên không chịu trách nhiệm pháp lý khi có thiệt hại liên quan đến hợp đồng, giao dịch trong trường hợp có phát sinh tranh chấp. Từ thực tế đó, văn bản công chứng không được xếp là nguồn chứng cứ, không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên tham gia giao dịch như một phán quyết của Tòa án.

Với cách thức tổ chức và phương thức hoạt động như nêu trên, xu hướng hiện nay cho thấy những người hành nghề trong hệ thống này không được an tâm. Người hành nghề đang có sự áp dụng một số khía cạnh về nghiệp vụ của công chứng La tinh để đảm bảo an toàn pháp lý hơn cho việc hành nghề của mình.

Trên thực tế, công chứng Anglo-Sacxon đã thể hiện được tính thực dụng và sự mềm dẻo trong hoạt động, tránh được sự chặt chẽ về mặt thủ tục công chứng: kích thích được sự năng động và tính tự quyết của người tham gia giao dịch.

Tuy nhiên, mặt hạn chế được thể hiện rõ nét là sự mờ nhạt trong vai trò quản lý của Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của nghệ công chứng. Văn bản công chứng không được coi là nguồn chứng cứ, công chứng viên không được xác định rõ về trách nhiệm vật chất khi có tranh chấp, thiệt hại về hợp đồng, giao dịch do mình công chứng. Độ an toàn pháp lý của giao dịch không được đảm bảo, do đó, tranh chấp, rủi ro dễ phát sinh, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

3. Hệ thống công chứng các nước bao cấp

3.1. Mô hình tổ chức và hoạt động

Công chứng theo hệ thống này chủ yếu được tổ chức và hoạt động các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (Đông Âu), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên). Nhà nước căn cứ vào yêu cầu về giao dịch dân sự ở từng vùng để quyết định việc thành lập, tổ chức ra tổ chức hành nghề công chứng dưới dạng Phòng công chứng nhà nước. Nhà nước đảm bảo cho hoạt động của Phòng công chứng về các mặt: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho làm việc, bố trí nhân sự (công chứng viên và người lao động khác trong Phòng), cấp ngân sách để chi lương cho người lao động và kinh phí đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên khác, giải quyết chế độ cho người lao động như quyền lợi tinh thần, quyền lợi vật chất, chế độ hưu trí...

Công chứng viên được nhà nước bổ nhiệm để hành nghề chuyên nghiệp, không kiêm nhiệm công việc khác; thực chất, họ là công chức, viên chức nhà nước. Khi thực hiện công chứng, công chứng viên xác định rõ về năng lực hành vi dân sự đích thực về ý chỉ thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch, xác định rõ về đối tượng của hợp đồng là có thật và được xác định về mặt pháp lý; nội dung, mục đích của hợp đồng phải phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội.

Loại hình tổ chức và hoạt động công chứng được nhà nước bao cấp thể hiện rõ tính chất quyền lực công ở hình thức con dấu, ở trụ sở Phòng công chứng là tài sản công. Để trở thành công chứng viên, ngoài các tiêu chuẩn do pháp luật quy định, người được xem xét để bổ nhiệm công chứng viên không cần phải có khả năng về tài chính liên quan đến việc hành nghề. Về mặt này, khác với công chứng viên ở mô hình La tinh, họ phải có khả năng về tài chính để tổ chức Văn phòng và tham gia vào công ty dân sự để hợp tác làm việc. Về quy định và thực hiện thu phí công chứng được thống nhất trên toàn lãnh thổ. Giá trị là chứng cứ của văn bản công chứng được xác định rõ.

3.2. Hạn chế của hệ thống công chứng bao cấp

Sự hạn chế của loại hình công chứng được nhà nước bao cấp về tổ chức và hoạt động đã bộc lộ rõ ở chỗ:

- Công chứng viên thực chất là công chức, viên chức nhà nước cho nên về chế độ chính sách đã có nhà nước đảm bảo, hàng tháng mức lương ổn định. Vì vậy, tính năng động, linh hoạt không được phát huy.

- Tài sản công đôi khi không được coi trọng, giữ gìn chu đáo, hỏng lại được thay thế bằng tiền ngân sách, sử dụng tài sản lãng phí.

- Điều kiện (thủ tục) công chứng bị coi là cứng nhắc có phần không phù hợp và đáp ứng các giao dịch về dân sự, kinh tế thông qua hình thức điện tử.

- Trước đây, do chưa quy định về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với công chứng viên, việc xác định trách nhiệm và bồi thường thiệt hại khi có rủi ro xảy ra cho người yêu cầu công chứng còn nhiều khó khăn.

Việc tổ chức và hoạt động công chứng theo hệ thống bao cấp đã được cơ bản chuyển đổi theo hệ thống công chứng La tinh kể từ sau năm 1993 khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng ở Đông Âu. Riêng ở Việt Nam, thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng, ở từng địa phương, các Phòng công chứng đang được sắp xếp lại và có xu hướng chuyển đổi thành Văn phòng công chứng theo lộ trình đã được xác định.

4. Việt Nam thuộc trường phái công chứng nào

- Trước năm 1993 Việt Nam thuộc trường phái công chứng bao cấp: 

Việt Nam thuộc trường phái công chứng theo hệ thống công chứng các nước bao cấp chủ yếu được tổ chức và hoạt động các nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước căn cứ vào yêu cầu về giao dịch dân sự ở từng vùng để quyết định việc thành lập, tổ chức ra tổ chức hành nghề công chứng dưới dạng Phòng công chứng nhà nước. Nhà nước đảm bảo cho hoạt động của Phòng công chứng về các mặt: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho làm việc, bố trí nhân sự (công chứng viên và người lao động khác trong Phòng), cấp ngân sách để chi lương cho người lao động và kinh phí đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên khác, giải quyết chế độ cho người lao động như quyền lợi tinh thần, quyền lợi vật chất, chế độ hưu trí...

- Sau năm 1993 Việt Nam thuộc trường phái công chứng La tinh:

Việc tổ chức và hoạt động công chứng theo hệ thống bao cấp đã được cơ bản chuyển đổi theo hệ thống công chứng La tinh kể từ sau năm 1993 khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng ở Đông Âu. Ở Việt Nam, thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng, ở từng địa phương, các Phòng công chứng đang được sắp xếp lại và có xu hướng chuyển đổi thành Văn phòng công chứng theo lộ trình đã được xác định. Luật Công chứng Việt Nam thuộc trường phái công chứng nội dung (còn gọi là công chứng hệ La -tinh), nghĩa là chỉ các hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới được công chứng viên xác nhận, còn các giao dịch, hợp đồng bất hợp pháp sẽ bị từ chối công chứng.

Nguyễn Văn Ngọc (tổng hợp)

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow