Giao dịch dân sự do người chưa đủ 18 tuổi thực hiện

Giao dịch dân sự do người chưa thành niên hoặc mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện.

06/11/2021 - 10:33 GMT+7
 0
 114
Theo dõi DocLuat trên Google News
Giao dịch dân sự do người chưa đủ 18 tuổi thực hiện
Ảnh minh họa nguồn Internet

Mục lục

1. Khái niệm giao dịch dân sự

   - Hợp đồng

   - Hành vi pháp lý đơn phương

2. Đặc điểm của giao dịch dân sự

3. Điều kiện để thực hiện giao dịch dân sự

   - Điều kiện thứ nhất

       + Người chưa thành niên là gì?

   - Điều kiện thứ hai

   - Điều kiện thứ ba

       + Người mất năng lực hành vi dân sự là gì?

       + Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là gì?

       + Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là gì?

4. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

5. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

6. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện

7. Tình huống

1. Khái niệm giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự thực chất là một loại sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.

Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý gồm hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Việc các chủ thể xác lập hợp đồng nhằm hướng tới làm phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định.

a) Hợp đồng: Có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của hai hay nhiều chủ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự như họp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản... Trong số các loại giao dịch dân sự, hợp đồng là loại giao dịch phổ biến nhất.

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 dành riêng Mục 7 để quy định về họp đồng với các hợp đồng thông dụng gồm:

- Hợp đồng mua bán tài sản;

- Hợp đồng trao đổi tài sản;

- Hợp đồng vay tài sản;

- Hợp đồng tặng cho tài sản;

- Hợp đồng thuê tài sản;

- Hợp đồng mượn tài sản;

- Hợp đồng dịch vụ;

- Hợp đồng vận chuyển;

- Họp đồng gia công;

- Hợp đồng gửi giữ;

- Hợp đồng ủy quyền;

- Hợp đồng hợp tác và hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Khi các chủ thể giao kết hợp đồng với nhau thì quyền và nghĩa vụ được xác lập cho các bên chủ thể. Tùy theo từng loại hợp đồng cụ thể mà các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác lập tương ứng.

b) Hành vi pháp lý đơn phương: Là giao dịch chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ như:

- Lập di chúc: Hành vi lập di chúc là ý chí của người lập di chúc trong việc đinh đoạt tài sản của họ sau khi chết;

- Hứa thưởng: Hứa thưởng là hành vi của bên hứa thưởng nhằm trao cho chủ thể khác một lợi ích vật chất nếu chủ thể đó thực hiện được công việc hứa thưởng do bên hứa thưởng đưa ra;

- Thi có giải.

...

Khi các chủ thể xác lập giao dịch dân sự đều hướng tới mục đích nhất định. Mục đích là những lợi ích chính đáng mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Chủ thể của giao dịch chỉ đạt được mục đích khi các bên trong giao dịch thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận và theo quy định của luật. Khi xác lập giao dịch, các bên chủ thể đều mong muốn đạt được mục đích mà họ đã đặt ra. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các chủ thể đều đạt được mục đích mà họ đã đề ra. Có một số nguyên nhân sau đây khiến chủ thể không đạt được mục đích khi xác lập giao dịch: 

Một là, giao dịch dân sự không phát sinh hiệu lực, như: A bán cho B sừng tê giác thì B không được quyền xác lập sở hữu đối với sừng tê giác vì đây là tài sản không được phép mua bán;

Hai là, các bên chủ thể trong giao dịch không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong giao dịch. như: A thỏa thuận cho B thuê nhà nhưng sau đó A không giao nhà cho B theo đúng thỏa thuận. Trường họp này mục đích của B không đạt được và A phải chịu trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch.

2. Đặc điểm của giao dịch dân sự

- Là sự kiện pháp lý thuộc hành vi pháp lý, luôn thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể tham gia (ít nhất thể hiện ý chí trước của 1 bên hoặc cả hai bên).

- Là loại sự kiện pháp lý phổ biến nhất và quan trọng nhất làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.

Giao dịch dân sự dù là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương đều có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, giao dịch dân sự luôn thể hiện ý chí của chủ thể trong giao dịch. Giao dịch dân sự là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương thì đều là hành vi có ý thức của chủ thể tham gia nhằm đạt được những mục đích nhất định. Trường hợp giao dịch dân sự là hợp đồng thì đó là sự thể hiện và thống nhất ý chí của từ các bên chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương thì đó là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Nội dung của giao dịch phải nhằm truyền tải những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể. Ý chí là những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể nên để xác lập giao dịch thì ý chỉ cần phải được thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định. Do đó, giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Thiếu sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu. Có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thể không thống nhất như trường hợp chủ thể bị nhầm lẫn, bị lừa dối hay cưỡng ép trong việc xác lập giao dịch. Ví dụ: A muốn mua một chiếc bình cổ nhưng do bị người bán lừa dối nên chiếc bình A mua là bình giả cổ.

Thứ hai, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự đều hướng đến phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi của một hay nhiều chủ thể nhằm hướng tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự gồm:

+ Một là, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giao dịch dân sự làm xác lập quyên và nghĩa vụ cho các bên chủ thể trong giao dịch.

Ví dụ: A thỏa thuận bán cho B căn hộ chung cư. Giao dịch dân sự giữa A và B có hậu quả pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa A và B. Trong đó, A có quyền nhận tiền bán căn hộ, có nghĩa vụ chuyển giao căn hộ và chuyển quyền sở hữu cho B. Còn B có quyền được nhận chuyển giao và sở hữu căn hộ, có nghĩa vụ trả tiền mua bán cho A.

+ Hai là, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau nhưng các bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung qua đó làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của mình cũng như của bên kia; Ba là, làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau. Sau đó, các bên chủ thể xác lập giao dịch để làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đang tồn tại giữa các bên.

Một giao dịch dân sự được xác lập có thể làm phát sinh một hoặc nhiều hậu quả pháp lý. Điều này phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong giao dịch. Như vậy, giao dịch dân sự có hai đặc điểm chính: (i) giao dịch dân sự phải là sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia và (ii) sự thể hiện ý chí phải nhằm đạt được một hậu quả pháp lý nhất định.

3. Điều kiện để thực hiện giao dịch dân sự

Điều kiện thứ nhất:

Trong các điều kiện để thực hiện giao dịch dân sự thì người thực hiện giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Trong đó:

- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau và nó xuất hiện từ khi cá nhân được sinh ra cho tới khi cá nhân chết đi.

- Năng lực hành vi dân sự là khả năng của chủ thể do pháp luật quy định bằng hành vi và theo ý chí của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều kiện thứ hai:

Năng lực pháp luật dân sự của mỗi cá nhân là như nhau và không bị hạn chế, nhưng năng lực hành vi dân sự được xác định theo độ tuổi theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Người thành niên: người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo qui định tại điều 22, điều 23, điều 24 Bộ luật dân sự 2015.

- Người chưa thành niên: người chưa đủ 18 tuổi chưa có đủ năng lực hành vi dân sự và các giao dịch dân sự của người chưa thành niên phải phụ thuộc vào người đại diện theo pháp luật, hoặc được thực hiện một số giao dịch mà pháp luật cho phép tùy thuộc vào giai đoạn tuổi, cụ thể theo quy định dưới đây.

Người chưa thành niên là gì?

Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy định người chưa thành niên:

- Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

 - Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân  sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Điều kiện thứ ba

Ngoài ra, còn một số trường hợp các cá nhân mặc dù đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng không có năng  lực hành vi dân sự hoặc không đầy đủ năng lực hành vi dân sự là các cá nhân thuộc các trường hợp theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Người mất năng lực hành vi dân sự là gì?

Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định người mất năng lực hành vi dân sự:

- Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

- Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là gì?

Điều 23 Bộ luật dân sự 2015 quy định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:

- Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là gì?

Điều 24 Bộ luật dân sự 2015 quy định người hạn chế năng lực hành vi dân sự:

- Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

- Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

- Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, tùy thuộc vào từng độ tuổi khác nhau mà một cá nhân được xác định là có "đủ năng lực" để xác lập một giao dịch dân sự hợp pháp theo quy định của pháp luật hay không. Chúng ta nên lưu ý yếu tố độ tuổi cũng như một số ngoại lệ luật định nêu trên trước khi giao kết một giao dịch dân sự nào đó để tránh rủi ro, tranh chấp không đáng có về sau, cũng như tránh hậu quả pháp lý xấu nhất là hợp đồng vô hiệu. 

4. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

Điều 136 Bộ luật dân sự 2015 quy định về những người là người đại diện theo pháp luật của cá nhân gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

- Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

- Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện theo quy định nêu trên.

- Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

5. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Như đã nêu ở phần trên thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

- Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

+ Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Lưu ý, Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện nêu trên thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự 2015 có quy định khác.

6. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện

Điều 125 Bộ luật dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện như sau:

- Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp dưới đây:

+ Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

+ Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

+ Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

7. Tình huống

A (16 tuổi) là con trai ông B. Do nghiện chơi điện tử, A đã mang chiếc xe máy đứng tên mình do mẹ mua tặng đi bán để lấy tiền chơi điện tử, việc A bán chiếc xe máy có được pháp luật công nhận không?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015, A mới 16 tuổi được xác định là người chưa thành niên và thuộc vào trường hợp “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 125 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý”.

Điều 125 Bộ luật dân sự 2015 loại trừ 3 trường hợp giao dịch dân sự do người chưa thành niên xác lập, thực hiện không bị vô hiệu Lawkey đã nêu ở trên. Tuy nhiên, trường hợp A bán xe máy không thuộc các trường hợp ngoại lệ mà điều luật quy định, do đó, giao dịch dân sự của A vẫn bị vô hiệu.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự 2015, B là cha đối với con 16 tuổi chưa thành niên sẽ là người đại diện theo pháp luật của A. Do đó, việc A bán chiếc xe máy mà không có sự đồng ý của ông B là trái với quy định của pháp luật. Ông B có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu trong thời hạn 02 năm kể từ ngày B biết A tự mình xác lập, thực hiện giao dịch bán xe máy.

 Nguyễn Văn Ngọc

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow