Hạn chế quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài

Một số ý kiến về hạn chế quyền sở hữu nhà đất (bất động sản) của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) tại Việt Nam.

11/09/2021 - 12:08 GMT+7
 0  235
Theo dõi DocLuat trên Google News
Hạn chế quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài
Ảnh minh họa nguồn Internet

Mục lục

I - Mở đầu

II - Giới hạn phân tích

III - Người nước ngoài và ‘Việt kiều’

IV - Quy định pháp luật về hạn chế sở hữu bất động sản của người nước ngoài

   4.1. Hạn chế về quyền sử dụng đất đai

      4.1.1. Người sử dụng đất

      4.1.2. Hình thức sử dụng đất

   4.2. Hạn chế về quyền sở hữu nhà ở

      4.2.1. Đối tượng sở hữu nhà ở

      4.2.2. Hình thức sở hữu nhà ở

      4.2.3. Số lượng nhà ở được sở hữu

      4.2.4. Thời hạn sở hữu nhà ở

  4.3 Hạn chế về sở hữu bất động sản không phải là nhà ở

   4.4. Hạn chế về quyền kinh doanh bất động sản

V - Một số bất cập và kiến nghị

VI - Kết luận

I - Mở đầu

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các vấn đề liên quan đến sở hữu, sử dụng, chuyển nhượng nhà ở, đất đai, công trình xây dựng, tài sản gắn liền với đất đã có nhiều thay đổi đáng kể trong cách tiếp cận đối với chủ thể nước ngoài theo hướng mở rộng hơn đối tượng được phép sở hữu các loại bất động sản tại Việt Nam trên nguyên tắc hiến định là đất đai sở hữu toàn dân (tổ chức, cá nhân không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng).

II - Giới hạn phân tích

Xem xét các quy định của pháp luật Việt Nam, chúng ta thấy, bất động sản không được định nghĩa một cách khái quát mà được liệt kê bao gồm: (i) đất đai; (ii) nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; (iii) tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; (iv) tài sản khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, phạm vi của bất động sản là tương đối rộng và ngay cả quy định của pháp luật hiện nay dường như cũng chưa bao quát hết được các loại tài sản nào sẽ được xem là bất động sản. Để thuận tiện trong việc trình bày, tác giả xin phép chỉ đề cập đến hai loại tài sản phổ biến nhất hiện nay đó là đất đai, nhà ở và thuật ngữ bất động sản trong bài viết này cũng sẽ được hiểu bao gồm hai (02) loại tài sản trên.

III - Người nước ngoài và ‘Việt kiều’

Luật Quốc tịch không đưa ra định nghĩa cụ thể về người nước ngoài mà nội dung này được ghi nhận trong Luật Xuất-Nhập cảnh, theo đó: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”. Như vậy, người nước ngoài được hiểu bao gồm người có quốc tịch nước khác ngoài quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch.

Pháp luật Việt Nam không có định nghĩa pháp lý về ‘Việt kiều’ (mặc dù đây là cụm từ khá phổ biến trên thực tế) mà sử dụng khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài để chỉ những đối tượng này, cụ thể: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã chỉ ra đặc điểm về (i) địa lý (ở nước ngoài lâu dài); và (ii) còn giữ quốc tịch Việt Nam hoặc có nguồn gốc Việt Nam.

Trong một số trường hợp người gốc Việt Nam (không còn mang quốc tịch Việt Nam) cũng được xem là người nước ngoài và phải lựa chọn áp dụng các quy chế pháp lý như người nước ngoài hoặc các quy chế của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (thường có phạm vi ưu tiên rộng hơn) khi tham gia vào một số quan hệ pháp lý tại Việt Nam mà cụ thể là giao dịch về bất động sản như đề cập tại phần sau của bài viết này.

IV - Quy định pháp luật về hạn chế sở hữu bất động sản của người nước ngoài

Hiện nay, quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài được quy định ở nhiều văn bản khác nhau có thể kể đến như Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014, Luật KDBĐS 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.  Về cơ bản có thể chia ra thành hai nhóm là hạn chế về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, trong đó, người nước ngoài có các hạn chế về quyền sở hữu đáng kể so với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

4.1. Hạn chế về quyền sử dụng đất đai

4.1.1. Người sử dụng đất

Luật Đất đai 2013 không quy định người nước ngoài là đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, giới hạn này không áp dụng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi chủ thể này là đối tượng có quyền sử dụng đất theo Khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai 2013. Cần làm rõ là người gốc Việt Nam sẽ không đương nhiên là chủ thể sử dụng đất tại Việt Nam nếu không lựa chọn tư cách của Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì bản thân họ là người không còn mang quốc tịch Việt Nam.

4.1.2. Hình thức sử dụng đất

Do không là đối tượng của quyền sử dụng đất nên theo Điều 186 Luật Đất đai 2013, trong trường hợp được hưởng thừa kế thì người nước ngoài sẽ không được nhận quyền sử dụng đất và không được cấp Giấy Chứng nhận nhưng được quyền tặng cho quyền sử dụng đất/chuyển nhượng quyền sử dụng đất (hưởng giá trị quyền sử dụng đất) cho đối tượng được quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là chủ thể sử dụng đất thì cũng có những giới hạn nhất định về phạm vi và mục đích sử dụng đất so với cá nhân Việt Nam:

(a.) Giao đất có thu tiền sử dụng đất theo khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai 2013, cụ thể: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, [..] được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê.”

(b.) cho thuê đất theo điểm đ, e khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai 2013, cụ thể: “[..], người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê.”; và “[..], người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp”.

(c.) Nhận quyền sử dụng đất theo điểm b, đ, k khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013.

 4.2. Hạn chế về quyền sở hữu nhà ở

4.2.1. Đối tượng sở hữu nhà ở

Theo Điều 7 Luật Nhà ở 2014 và khoản 2 Điều 14 Luật KDBĐS 2014, đối tượng được sở hữu nhà ở bao gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong đó:

(a.) Đối với người nước ngoài thì phải đáp ứng đủ các điều kiện như: (i) được phép nhập cảnh vào Việt Nam; và (ii) không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự.

(b.) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải thuộc đối tượng được phép nhập cảnh vào Việt Nam. Trường hợp cá nhân nước ngoài có giấy tờ xác nhận là gốc Việt Nam thì chỉ được quyền lựa chọn một đối tượng áp dụng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài để xác định quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

4.2.2. Hình thức sở hữu nhà ở

Theo Điều 8 và khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở 2014, người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở dưới các hình thức sau:

(a.) Người nước ngoài được sở hữu nhà ở chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

(b.) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản; mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.  

4.2.3. Số lượng nhà ở được sở hữu

Đối với người nước ngoài pháp luật áp dụng một tỉ lệ sở hữu nhất định, cụ thể:

(a.) Nhà chung cư: chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư, trong đó, đối với hình thức mua, thuê mua thì chỉ được mua, thuê mua nhà ở của chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở hoặc mua nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài có nhà ở tại Việt Nam. Trường hợp trên một địa bàn có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường mà có nhiều tòa nhà chung cư để bán, cho thuê mua thì cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 30% số căn hộ của mỗi tòa nhà chung cư và không quá 30% tổng số căn hộ của tất cả các tòa nhà chung cư này; và

(b.) Nhà ở riêng lẻ (bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề): trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi (250) căn nhà, trong đó:

+ Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ dưới hai nghìn năm trăm (2.500) căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% tổng số lượng nhà ở trong dự án đó;

+ Trường hợp chỉ có một dự án có số lượng nhà ở riêng lẻ tương đương 2.500 căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá hai trăm năm mươi (250) căn;

+ Trường hợp có từ hai dự án trở lên mà tổng số nhà ở riêng lẻ trong các dự án này ít hơn hoặc bằng hai nghìn năm trăm (2.500) căn thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu không quá 10% số lượng nhà ở của mỗi dự án.

(Lưu ý rằng, tỷ lệ/ số lượng nhà ở riêng lẻ và chung cư nêu trên là tổng số lượng mà cả tổ chức nước ngoài và cá nhân nước ngoài được sở hữu)

Pháp luật về nhà ở không có hạn chế cụ thể về số lượng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

4.2.4. Thời hạn sở hữu nhà ở

Đối với người nước ngoài, thời hạn sở hữu nhà ở không quá năm mươi (50) năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận và có thể được xem xét gia hạn thêm một lần với thời hạn tối đa không quá năm mươi (50) năm. Pháp luật không có giới hạn về thời hạn sở hữu nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.  Do đó, có thể hiểu rằng, thời hạn sở hữu nhà sẽ áp dụng như đối với cá nhân trong nước.

4.3 Hạn chế về sở hữu bất động sản không phải là nhà ở (vd: biệt thự biển, căn hộ du lịch)

Theo khoản 2 Điều 14 Luật KDBĐS 2014, thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được thuê các loại bất động sản để sử dụng; được mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở.  Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mua, thuê mua nhà, công trình xây dựng để sử dụng làm văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo đúng công năng sử dụng của nhà, công trình xây dựng đó.  Như vậy, người nước ngoài không được sở hữu các loại hình bất động sản mà không phải là nhà ở như các loại hình biệt thự biển, căn hộ du lịch. Trong khi đó người Việt Nam định cư ở nước ngoài dường như không bị ràng buộc bởi hạn chế này và được tự do mua/thuê mua nhà, công trình xây dựng có các công năng sử dụng khác.

4.4. Hạn chế về quyền kinh doanh bất động sản

Mặc dù nội dung này không liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu bất động sản nhưng có tác động gián tiếp đến quyền đối với bất động sản của người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cụ thể: người nước ngoài không phải là chủ thể được kinh doanh bất động sản (với tư cách cá nhân) tại Việt Nam. Trong khi đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mặc dù có hạn chế hơn so với cá nhân trong nước nhưng vẫn được quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh bất động sản, như: (i) đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; (ii) đối với đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để cho thuê theo đúng mục đích sử dụng đất; (iii) nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iv) đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; (v) đối với đất thuê, đất nhận chuyển nhượng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

V - Một số bất cập và kiến nghị

Chủ thể cuả quyền sử dụng đất: khoản 1 Điều 19 Luật KDBĐS 2014 quy định “Việc mua bán nhà, công trình xây dựng phải gắn với quyền sử dụng đất”. khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai 2013 quy định “Đối với dự án kinh doanh nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp với cho thuê hoặc để cho thuê mua thì thời hạn giao đất cho chủ đầu tư được xác định theo thời hạn của dự án; người mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài”.  Tuy nhiên điều này dường như rất mâu thuẫn khi Điều 5 Luật Đất đai 2013 không ghi nhận người nước ngoài là chủ thể của quyền sử dụng đất và không người nước ngoài nào được cấp Giấy chứng nhận. Mặc dù vậy, trên thực tế khi người nước ngoài mua nhà ở thì phần thông tin về thừa đất vẫn phải được ghi nhận đầy đủ vào Giấy chứng nhận (mà không có một lưu ý cụ thể nào) nên hoàn toàn có thể dẫn đến nhiều trường hợp hiểu nhầm rằng người nước ngoài cũng được cấp quyền sử dụng đất.  Do đó, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc ghi nhận trong Giấy chứng nhận một cách rõ ràng rằng người nước ngoài không thuộc đối tượng có các quyền đối với đất.

Phạm vi quyền kinh doanh bất động sản: Luật Đất đai 2013 và Luật KDBĐS 2014 cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua.  Quy định này về lý thuyết là một quy định mở tuy nhiên lại không khả thi bởi để nhận chuyển nhượng dự án bất động sản thì phải là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.  Như vậy, trên thực tế vẫn phải thành lập doanh nghiệp để thực hiện quyền này.

Nhận chuyển nhượng hợp đồng mua nhà ở: Theo Nghị định 99 thì người nước ngoài không được nhận chuyển nhượng nhà ở từ cá nhân, hộ gia đình dù căn hộ/nhà ở riêng lẻ đó nằm trong khu vực dự án nhà ở. Quy định này mục đích quản lý các giao dịch chuyển nhượng và hạn chế việc người nước ngoài sở hữu quá số lượng nhà ở cho phép.  Tuy nhiên, trên thực tế thì nhu cầu mua lại nhà từ chủ thể trong nước là tương đối nhiều và có thể dẫn đến các giao dịch tặng cho về hình thức để thông qua đó sở hữu nhà ở.  Với việc nhận thừa kế, nhận tặng cho (không thông qua chủ đầu tư) thì quy trình để kiểm soát và quản lý số lượng nhà ở mà người nước ngoài được sở hữu cũng tương đối khó khăn và phức tạp.  Hơn nữa, việc bên tặng cho tra cứu thông tin trên cổng thông tin của Sở Xây dựng nhiều trường hợp không thể thực hiện được vì không có thông tin còn việc xin xác nhận bằng văn bản lại gặp nhiều khó khăn và mất thời gian.

Tiếp cận quyền sử dụng đất gián tiếp qua thành lập doanh nghiệp: Xét trên góc độ tiếp cận quyền sử dụng đất thì người nước ngoài không phải là chủ thể sử dụng đất và quy định này dường như nhằm mục đích bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng bậc nhất khỏi người nước ngoài.  Tuy nhiên, quy định này dường như không khó để có thể vượt qua bằng việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và/hoặc mua vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, thông qua đó, các chủ thể này có được các quyền thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cũng như được quyền kinh doanh bất động sản với phạm vi tương đối rộng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thời hạn sở hữu nhà ở: Pháp luật nhà ở quy định thời hạn sở hữu nhà ở là không quá năm mươi (50) năm với người nước ngoài và có thể được gia hạn thêm.  Như vậy, quy định của pháp luật không thực sự rõ ràng trong mục đích của việc giới hạn thời gian sở hữu nhà vì thời gian này hoàn toàn có thể được gia hạn thêm tối đa năm mươi (50) năm và đến khi gần hết thời hạn trên thì người nước ngoài hoàn toàn có thể chuyển nhượng cho cá nhân khác để người đó được tiếp tục hưởng quyền được gia hạn hoặc chuyển sang hình thức sử dụng lâu dài (nếu chuyển cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc cá nhân trong nước) và người nước ngoài sẽ tiếp tục đi mua một căn nhà ở khác/thuê lại căn nhà trên mà không gặp phải hạn chế nào.  Trong trường hợp không thành lập doanh nghiệp thì khi người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì giới hạn về thời gian sở hữu sẽ được xóa bỏ.

Giá bán nhà ở: thực tế các chủ đầu tư sẽ thường phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá thành để bán cho người mua mà không loại trừ đó là cá nhân trong nước hay người nước ngoài.  Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là người nước ngoài không thuộc đối tượng được hưởng quyền sử dụng đất thì việc tính toán tiền sử dụng đất vào giá trị nhà ở có phù hợp không bởi trên thực tế thì quyền sử dụng đất cũng không thể “bê” đi nơi khác trong thời gian người nước ngoài sở hữu nhà ở.  Đối với vấn đề xây dựng lại nhà chung cư, trong trường hợp nhà chung cư phải phá dỡ để xây dựng lại mà chưa hết thời hạn sở hữu nhà của người nước ngoài thì sẽ phải xử lý như thế nào để đảm bảo quyền lợi khi họ không có quyền gì đối với diện tích đất xây dựng nhà chung cư. Do đó, tác giả cho rằng, khi đã giới hạn phạm vi địa lý về sở hữu nhà (trong dự án phát triển nhà ở thương mại) thì cần mở rộng quyền sử dụng đất đối với người nước ngoài trong trường hợp này bằng một cơ chế thu tiền sử dụng đất/tiền thuê đất và quản lý giám sát việc sử dụng đất gắn với sở hữu nhà ở thích hợp (VD: vẫn được cấp quyền sử dụng đất nhưng không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất phù hợp với thời hạn sở hữu nhà ở) để vẫn đảm bảo được quản lý nhà nước về đất đai và khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất.

Số lượng nhà ở được sở hữu: Pháp luật về nhà ở giới hạn số lượng, tỉ lệ sở hữu nhà ở của người nước ngoài. Tuy nhiên, với việc cấm mua nhà tại các khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc giới hạn này cần được xem xét mở rộng bởi:

- Như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (được đầu tư bởi các tổ chức, cá nhân nước ngoài và chịu sự kiểm soát của các nhà đầu tư này) vẫn đang được quyền tiếp cận quyền sử dụng đất và nhà ở tại Việt Nam, thậm chí là với quy mô lớn trải dài khắp lãnh thổ; và

- Pháp luật vẫn cho người nước ngoài vẫn được quyền thuê nhà ở và nếu người nước ngoài thuê nhà ở lâu dài thì trên thực tế người nước ngoài vẫn có rất nhiều quyền của chủ sở hữu nhà ở.  Trong trường hợp bị hạn chế quyền sở hữu ở mức 30% thì việc người nước ngoài thuê nhà lại không bị hạn chế về tỉ lệ. Do đó, về lý thuyết thì vẫn có thể có trường hợp một toà chung cư/khu nhà ở riêng lẻ chỉ có người nước ngoài sinh sống.  Khi đó ý nghĩa của việc giới hạn tỉ lệ này không còn nhiều giá trị.

Do đó, cá nhân tác giả cho rằng, đối với các khu vực không có hạn chế về an ninh, quốc phòng thì việc hạn chế số lượng, tỉ lệ sở hữu nhà ở cần được xem xét loại bỏ.  

VI - Kết luận

Trên đây là tóm tắt một số nội dung quy định của pháp luật về quyền sở hữu bất động sản theo quy định của pháp luật hiện hành. Qua đó, có thể nhận thấy rằng dù đã có các quy định cởi mở hơn dành cho người nước ngoài, tuy nhiên, vẫn còn nhiều nội dung vướng mắc, bất cập (các bất cập có thể đến từ chính quy định của pháp luật hoặc trong quá trình triển khai áp dụng trên thực tế) cần sớm được khắc phục để hoàn thiện hơn hệ thống quy định về quyền sở hữu bất động sản với người nước ngoài (bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài).  

Trong phạm vi bài phân tích này có thể vẫn còn nhiều những hạn chế/bất cập khác mà do hạn chế về thời gian/năng lực mà tác giả chưa thể trình bày được đầy đủ, do đó, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu để tác giả có thể hoàn thiện bài phân tích cũng như có thêm các kiến thức thực tiễn về lĩnh vực này./.

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow