Khi chủ doanh nghiệp tư nhân chết sẽ có quyền để lại tài sản thừa kế

Khi chủ doanh nghiệp chết đi những nghĩa vụ tài sản và các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa thực hiện sẽ được đảm bảo bằng tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân.

11/12/2021 - 11:14 GMT+7
 0  155
Theo dõi DocLuat trên Google News

MỤC LỤC

1. Doanh nghiệp tư nhân là gì?

2. Quy định chung về Doanh nghiệp tư nhân

3. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

     3.1. Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ

     3.2. Về quan hệ sở hữu vốn trong Doanh nghiệp

     3.3. Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lí

     3.4. Về phân phối lợi nhuận

     3.5. Doanh nghiệp Tư nhân không có tư cách pháp nhân

     3.6. Chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động

4. Quản lý doanh nghiệp

5. Xử lý thế nào khi chủ doanh nghiệp tư nhân chết?

      1. Trường hợp xác định được người thừa kế

      2. Trường hợp có nhiều người thừa kế nhưng không thoả thuận được

      3. Trường hợp không có người thừa kế

1. Doanh nghiệp tư nhân là gì?

Căn cứ vào điều 183 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân được hiểu như sau:

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

2. Quy định chung về Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân đứng ra thành lập và làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, ưu điểm của hình thức kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về mọi vân đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, do đó tổ chức việc quản lý tương đối đơn giản, không có rủi ro xảy ra các khó khăn vì có ý kiên khác nhau giữa các thành viện như đối vơi Công ty TNHH hay Công ty cổ phần. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một Doanh nghiệp tư nhân (Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020).

Nhưng trở ngại lớn nhất của loại hình kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân ưên toàn bộ tài sản của mình về các khoản nỢ của doanh nghiệp. Do đỏ, nếu làm ăn thua lỗ thì không những cá nhân Chủ doanh nghiệp mà cả gia đình vợ con họ có thể lâm vào tình trạng khốn khó; Điều này chứng tỏ tại sao các Chủ Doanh nghiệp tư nhân thường không dám đầu tư lớn vào công cuộc kinh doanh, không có các quyết định táo bạo trong sản xuất. Thực tế Doanh nghiệp tư nhân phần lớn là các tổ chức kinh tế cỡ nhỏ không đem lại nhiều lợi lộc cho nền kinh tế quốc dân.

Luật Doanh nghiệp cho phép cá nhân được thành lập Công ty TNHH một thành viên nên việc thành lập Doanh nghiệp tư nhân không còn nhiều lợi ích như trước đây: một cá nhân có thể đứng ra thành lập một Công ty TNHH một thành viên, họ có toàn quyền điều hành công ty theo ý muôn trong khi trách nhiệm về tài sản của họ đốì với hoạt động của công ty chỉ giới hạn trong số vốn góp vào công ty. Rồi đây dạng Công ty TNHH một thành viên sẽ phát triển và dành vị trí của Doanh nghiệp tư nhân hiện nay.

Nhưng cái gì cũng có mặt ưái của nó: cho phép một cá nhân thắnh lập công ty của riêng mình tức là phá vỡ bản chất hợp đồng của công ty; thành lập công ty không cần phải có sự thoả thuận của ít nhất hai ý chí, mà có thể do hành vi đơn phương của một cá nhân. Sự hùn hiệp giữa nhiều người không còn là yếu tố cơ bản của công ty; lý thuyết theo đó pháp nhân là một thực tế không còn phù hợp nữa, pháp nhân chỉ còn là một kỹ thuật pháp lý thuần túy.

3. Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

Khi thành lập doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư phải nắm được những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này để có sự lựa chọn đúng đắn.

3.1. Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ

Doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của DN cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất.

3.2. Về quan hệ sở hữu vốn trong Doanh nghiệp

Nguồn vốn ban đầu của Doanh nghiệp tư nhân xuất phát chủ yếu từ tài sản của chủ Doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ Doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư, chỉ phải khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp giảm vốn xuống dưới mức đã đăng kí. Vì vậy, không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của Doanh nghiệp Tư nhân và phần còn lại thuộc sở hữu của chủ Doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là không thể tách bạch tài sản của chủ Doanh nghiệp Tư nhân và tài sản của chính Doanh nghiệp Tư nhân đó.

3.3. Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lí

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân. Chủ Doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân.

3.4. Về phân phối lợi nhuận

Vấn đề phân chia lợi nhuận không đặt ra đối với Doanh nghiệp tư nhân bởi Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu và toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ Doanh nghiệp. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là cá nhân duy nhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh.

3.5. Doanh nghiệp Tư nhân không có tư cách pháp nhân

Một pháp nhân phải có tài sản riêng, tức phải có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân đó với những người tạo ra pháp nhân. Doanh nghiệp Tư nhân không có sự độc lập về tài sản vì tài sản của Doanh nghiệp Tư nhân không độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ Doanh nghiệp Tư nhân.

3.6. Chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động

Do tính chất độc lập về tài sản không có nên chủ Doanh nghiệp Tư nhân – người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của Doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn. Chủ Doanh nghiệp Tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn đầu tư đã đăng kí mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản trong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng kí không đủ.

4. Quản lý doanh nghiệp

Trên nguyên tắc, Chủ doanh nghiệp tự mình quản lý doanh nghiệp, tự quyết định và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Chủ doanh nghiệp có thể thuê một người khác là Giám đốc quản lý doanh nghiệp. Trên phương diện pháp lý Giám đốc chỉ là người làm thuê, Chủ doanh nghiệp tiếp tục phải chịu trách nhiệm về các cam kết của Giám đốc với người thứ ba. Tương quan giữa Chủ doanh nghiệp và Giám đốc là tương quan giữa người thuê lao động và người lao động, đây là một quan hệ thống thuộc theo đó Gỉám đốc phải tuân theo các chỉ thị của Chủ doanh nghiệp, nếu phạm lỗi thì phải bồi thường cho Chủ doanh nghiệp.

Chủ doanh nghiệp thuê giám đốc thì phải khai báo việc này với cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong mọi trường hợp, Chủ doanh nghiệp vẫn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Trong quá trình kinh doanh, Chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình. Việc tăng hay giảm vốn không cần phải xin phép hoặc thông báo với ai cả mà chỉ cần được ghi chép đầy đủ trong sổ sách kế toán. Tuy nhiên, nếu giảm vốn đầu tư xuống tháp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì Chủ doanh nghiệp chỉ được làm việc này sau khi đã khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hàng năm sau khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp phải gửi báo cáo tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có thẩm quyền.

5. Xử lý thế nào khi chủ doanh nghiệp tư nhân chết?

Khoản 2, 3 Điều 193 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì sẽ xử lý như sau:

2. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì người thừa kế hoặc một trong những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ doanh nghiệp tư nhân theo thỏa thuận giữa những người thừa kế. Trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng ký chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể doanh nghiệp tư nhân đó.

3. Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân được xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự.

Như vậy, trường hợp chủ doanh nghiệp doanh nghiệp tư nhân chết thì doanh nghiệp tư nhân đó sẽ giải quyết theo các hướng dưới đây:

1. Trường hợp xác định được người thừa kế

Nếu chỉ có duy nhất một người thừa kế hoặc những người thừa kế thoả thuận và cử một người đứng ra nhận thừa kế thì người thừa kế đó trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân mới. Doanh nghiệp tư nhân phải tiến hành thủ tục thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân.

Căn cứ khoản 1 Điều 54 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, hồ sơ thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân bao gồm:

- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp có chữ ký của người thừa kế đối với trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết;

- Bản sao giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với người thừa kế;

- Bản sao văn bản xác nhận quyền thừa kế hợp pháp của người thừa kế trong trường hợp thừa kế.

2. Trường hợp có nhiều người thừa kế nhưng không thoả thuận được

Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân đã mất có nhiều người thừa kế và những người thừa kế không thoả thuận được người thừa kế đứng ra làm chủ doanh nghiệp tư nhân thì phải tiến hành thành lập loại hình doanh nghiệp khác hoặc tiến hành giải thể doanh nghiệp.

3. Trường hợp không có người thừa kế

Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế là khi họ không để lại di chúc và cũng không có người thừa kế theo pháp luật (do bị truất quyền hoặc từ chối nhận di sản thừa kế). Lúc này, tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ được xử lý theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015. Cụ thể:

Điều 622 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

Như vậy, nếu chủ doanh nghiệp tư nhân chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa kế bị truất quyền thừa kế, từ chối nhận thừa kế thì tài sản của doanh nghiệp tư nhân sẽ thuộc về nhà nước.

Nguyễn Văn Ngọc (tổng hợp)

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow