Tiểu luận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Về ý nghĩa của việc mang thai hộ, kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định, quyền và nghĩa vụ của bên, thực trạng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam.

07/10/2021 - 19:29 GMT+7
 0
 1337
Theo dõi DocLuat trên Google News

Tình huống tiểu luận: Quan điểm giải quyết của anh (chị) đối với việc công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà các bên có đề nghị đưa vào nội dung: Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định.

MỤC LỤC

I. MỞ ĐẦU
II. NỘI DUNG
Mục I:  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN THỎA THUẬN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
   1. Khái quát chung về văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
   2. Hình thức của thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được công chứng
   3. Trình tự, thủ tục chung về công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
       3.1. Bước 1: Nộp hồ sơ
       3.2. Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ
       3.3. Bước 3: Soạn thảo và ký văn bản
       3.4. Bước 4: Ký chứng nhận
       3.5. Bước 5: Trả kết quả công chứng
       3.6. Bước 6: Lưu trữ hồ sơ công chứng
   4. Yêu cầu, điều kiện thực hiện
Mục II:  NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ VĂN BẢN THỎA THUẬN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
   1. Nội dung cơ bản về văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
   2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
   3. Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ các bên trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
       3.1. Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
       3.2.  Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì  mục đích nhân đạo
   4. Tình huống: quan điểm giải quyết của anh (chị) đối với việc công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà các bên có đề nghị đưa vào nội dung: Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định
   5. Thực tiễn
   6. Kiến nghị
III. KẾT LUẬN
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. MỞ ĐẦU

Nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngành y tế mà hiện nay, hình thức mang thai hộ được ra đời và đi vào thực tiễn bởi có các cặp vợ chồng muốn làm cha, làm mẹ nhưng không thể tự mình mang thai, việc các cặp vợ chồng không thể có con theo cách tự nhiên được có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Từ nhu cầu thực tế việc những cặp vợ chồng nhờ người mang thai hộ do vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản diễn ra ngày một nhiều và phức tạp hơn, kèm theo đó là những rủi ro khôn lường cho các bên và vi phạm đạo đức xã hội, nên pháp luật đã đưa ra các quy định việc mang thai hộ trong đó có việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Do đó việc nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được lập thành văn bản có công chứng nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa và giảm thiểu tranh chấp, rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên.

Đây cũng là lý do tôi muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật liên quan đến mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và xem xét các thỏa thuận giữa các bên đưa vào nội dung, mục đích trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội không, vì vậy tôi chọn đề tài:

 Quan điểm giải quyết của anh (chị) đối với việc công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà các bên có đề nghị đưa vào nội dung: Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định.

Có thể nói nội dung thỏa thuận các bên muốn đưa vào nêu trên cần làm rõ, vì đây là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không phải mang thai hộ vì mục đích thương mại. Khoản tiền này có phải là khoản tiền dùng để thăm khám, chăm sóc sức khỏe sinh sản, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao trẻ hay không?.

II. NỘI DUNG

Mục I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN THỎA THUẬN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO

1. Khái quát chung về văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Trong cuộc sống chúng ta, không phải bất kỳ người vợ nào cũng có thể mang thai và sinh con một cách tự nhiên hoặc ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản người vợ cũng không thể mang thai và sinh con được và buộc phải nhờ người khác mang thai hộ và sinh con giùm cho mình. Để thực hiện được việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo này thì cặp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ phải tìm được người nhờ mang thai hộ đồng thời phải thỏa mãn các điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ một cách hợp pháp.

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng được giải thích về từ ngữ theo khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như sau: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”. Như vậy việc mang thai hộ là việc một người phụ nữ tự nguyện mang thai cho vợ chồng người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc hỗ trợ sinh sản đó được thực hiện bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con. Việc mang thai hộ này hoàn toàn mang mục đích nhân đạo, không vì mục đích thương mại. Người mang thai hộ không được đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, vật chất hoặc lợi ích khác làm điều kiện để mang thai hộ, trừ những khoản tiền, vật chất mà vợ chồng nhờ mang thai hộ tự nguyện cung cấp để bồi dưỡng, chăm sóc cho sức khỏe của người mang thai hộ và cho thai nhi.

Việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như sau: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.”

Cũng như quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015, như sau: “…Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật Dân sự này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình”.

2. Hình thức của thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được công chứng

Xét về mặt hình thức thì theo khoản 2 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định hình thức thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được lập thành văn bản, đồng thời xuất phát tại quy định khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014, công chứng viên chỉ có thể chứng nhận việc thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nếu được lập thành văn bản.

Xét về mặt bản chất, văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một quan hệ hợp đồng. Để phát sinh quan hệ thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và được công chứng thì các bên phải có sự thỏa thuận và thống nhất ý chí với nhau về tất cả các nội dung của thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Do đó thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải là quan hệ hợp đồng.

Tuy nhiên, thẩm quyền chứng nhận văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như sau:

“Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng”“Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này”.

Trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ không muốn cả 2 vợ chồng cùng tham gia ký kết văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì phải lập hợp đồng ủy quyền cho nhau có chứng nhận của công chứng. Đối với bên mang thai hộ cũng vậy, vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau về việc ký kết văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì cũng phải lập hợp đồng ủy quyền có chứng nhận của công chứng. Pháp luật không cho phép ủy quyền cho người thứ ba thực hiện việc ký kết văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nếu có lập ủy quyền thì ủy quyền đó sẽ bị vô hiệu.

3. Trình tự, thủ tục chung về công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc công chứng viên tiến hành những công việc cụ thể một cách khoa học, logic để thực hiện việc chứng nhận văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo đúng quy định của pháp luật.

Thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gồm những bước cơ bản như sau:

  • Nộp hồ sơ;
  • Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ;
  • Soạn thảo văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng hoặc kiểm tra dự thảo văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo do các bên tự soạn thảo và ký văn bản;
  • Ký chứng nhận;
  • Trả kết quả công chứng;
  • Lưu trữ hồ sơ công chứng.

Để hiểu rõ hơn trình tự, thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì chúng ta sẽ lần lượt đi vào cụ thể từng bước của trình tự, thủ tục công chứng nêu trên.

3.1. Bước 1: Nộp hồ sơ

Người yêu cầu công chứng hoàn thiện hồ sơ và nộp trực tiếp tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng (Phòng Công chứng hoặc Văn phòng Công chứng), từ thứ hai đến thứ sáu (buổi sáng từ 07 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút, buổi chiều từ 13 giờ 00 phút đến 17 giờ 00 phút) và sáng thứ bảy (từ 07 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút).

3.2. Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ

Đây là bước quan trọng trong hoạt động công chứng. Đây là giai đoạn tiếp xúc đầu tiên của công chứng viên đối với người yêu cầu công chứng để xác định chính xác yêu cầu công chứng, từ đó công chứng viên xác định những giấy tờ cần thiết đối với yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng, xác định thẩm quyền công chứng. Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bước sau tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác theo quy định của pháp luật.

Trước hết, công chứng viên cần xác định thẩm quyền công chứng đối với việc yêu cầu công chứng của người yêu cầu công chứng. Lưu ý đến thẩm quyền công chứng theo địa hạt đối với các giao dịch liên quan đến bất động sản. Tuy nhiên, đối với trường hợp văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì không phải tuân theo địa hạt (Điều 42 Luật Công chứng 2014).

Trường hợp việc tiếp nhận thông qua bộ phận tiếp nhận hồ sơ thì bộ phận tiếp nhận chuyển hồ sơ cho Công chứng viên kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng;

Trường hợp Công chứng viên trực tiếp nhận, thì thực hiện kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng:

- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý và ghi vào sổ công chứng;

- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng chưa đầy đủ: Công chứng viên ghi phiếu hướng dẫn và yêu cầu bổ sung (phiếu hướng dẫn ghi cụ thể các giấy tờ cần bổ sung, ngày tháng năm hướng dẫn và họ tên Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ);

- Trường hợp hồ sơ không đủ cơ sở pháp luật để giải quyết: Công chứng viên giải thích rõ lý do và từ chối tiếp nhận hồ sơ. Nếu người yêu cầu công chứng đề nghị từ chối bằng văn bản, Công chứng viên báo cáo Trưởng phòng/Trưởng Văn phòng xin ý kiến và soạn văn bản từ chối.

Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng 2014 quy định người yêu cầu công chứng phải nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

- Phiếu yêu cầu công chứng. Thông thường ở các Phòng/Văn phòng công chứng đều có biểu mẫu Phiếu yêu cầu công chứng, người yêu cầu công chứng chỉ việc điền đầy đủ các thông tin ghi trên phiếu.

- Dự thảo văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (nếu có). Nếu không tự soạn thảo được văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì người yêu cầu công chứng có thể đề nghị Phòng/Văn phòng công chứng soạn thảo.

- Bản sao giấy tờ tùy thân: Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Giấy chứng minh sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam/Hộ chiếu của các bên tham gia giao dịch;

- Giấy tờ khác có liên quan mà pháp luật quy định phải có, như:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn/xác nhận về quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày 03/01/1987 cho đến nay (trong trường hợp sống chung nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn);

+ Bản xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền về khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ bên nhờ mang thai hộ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

+ Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi;

+ Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;

+ Bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ này;

+ Giấy xác nhận đã từng sinh con của người đồng ý mang thai hộ và bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;

+ Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;

+ Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;

+ Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;

+ Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ; Nếu người mang thai hộ chưa kết hôn thì phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của người mang thai hộ;

+ Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

+ Giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể tham gia giao dịch:

  • Cá nhân là người Việt Nam cư trú trong nước: hộ khẩu;
  • Hợp đồng ủy quyền của vợ chồng cho nhau về việc ký văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

+ Giấy tờ chứng minh về năng lực hành vi: giấy khám sức khỏe/tâm thần… (trong trường hợp có nghi ngờ về năng lực hành vi của bên tham gia giao kết văn bản);

+ Chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người làm chứng/ người phiên dịch (trong trường hợp cần phải có người làm chứng/ người phiên dịch).

+ Giấy tờ khác có liên quan đến văn bản yêu cầu chứng nhận mà pháp luật quy định phải có;

+ Đối với trường hợp văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn: ngoài thành phần nêu trên thì kèm theo Dự thảo văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Khi người yêu cầu công chứng nộp bản sao (bản sao không nhất thiết phải có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền), công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính để đối chiếu.

3.3. Bước 3: Soạn thảo và ký văn bản

- Trường hợp văn bản đã được người yêu cầu công chứng soạn thảo sẵn: Công chứng viên kiểm tra dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, nội dung của văn bản không phù hợp quy định của pháp luật, Công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa. Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì Công chứng viên có quyền từ chối công chứng;

- Trường hợp văn bản do Công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng: Trường hợp nội dung, ý định giao kết văn bản là xác thực, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì Công chứng viên soạn thảo văn bản;

- Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo văn bản hoặc Công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe theo đề nghị của người yêu cầu công chứng. Trường hợp người yêu cầu công chứng có yêu cầu sửa đổi, bổ sung, Công chứng viên xem xét và thực hiện việc sửa đổi, bổ sung ngay trong ngày hoặc hẹn lại;

- Trường hợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong dự thảo văn bản, Công chứng viên hướng dẫn người yêu cầu công chứng ký vào từng trang của văn bản.

3.4. Bước 4: Ký chứng nhận

Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ theo quy định để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của văn bản và chuyển bộ phận thu phí của tổ chức hành nghề công chứng.

3.5. Bước 5: Trả kết quả công chứng

Bộ phận thu phí của tổ chức hành nghề công chứng hoàn tất việc thu phí, thù lao công chứng và chi phí khác theo quy định, đóng dấu và hoàn trả lại hồ sơ cho người yêu cầu công chứng.

3.6. Bước 6: Lưu trữ hồ sơ công chứng.

Hồ sơ công chứng sau khi đã ký, đóng dấu bao gồm: phiếu yêu cầu công chứng, bản chính văn bản công chứng, bản sao các loại giấy tờ mà người yêu cầu công chứng đã nộp, các giấy tờ xác minh, giám định và giấy tờ liên quan khác (Điều 63 Luật công chứng 2014). Sau khi thu phí công chứng, bộ phận thu phí ghi số công chứng và chuyển giao lại cho bộ phận lưu trữ. Việc lưu trữ được nhân viên lưu trữ thực hiện theo Điều 63, Điều 64 Luật công chứng 2014.

4. Yêu cầu, điều kiện thực hiện

- Mục đích và nội dung của văn bản không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó;

- Thỏa mãn các điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các hướng dẫn quy định như: người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ, xác nhận của tổ chức y tế cũng như cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý theo quy định của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016).

- Điều kiện đối với các bên:

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

+ Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng:

* Người làm chứng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng;

* Người làm chứng do người yêu cầu công chứng mời, nếu người yêu cầu công chứng không mời được thì công chứng viên chỉ định.

+ Trường hợp người yêu cầu công chứng không thông thạo tiếng Việt thì họ phải có người phiên dịch:

* Người phiên dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thông thạo tiếng Việt và ngôn ngữ mà người yêu cầu công chứng sử dụng;

* Người phiên dịch do người yêu cầu công chứng mời và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc phiên dịch của mình.

+ Phải có năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự;

- Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết văn bản có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng;

- Khi công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý cho các bên tham gia;

- Giấy tờ do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp hoặc công chứng, chứng thực ở nước ngoài để sử dụng cho giao dịch dân sự tại Việt Nam phải được Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam hoặc Bộ Ngoại giao hợp pháp hóa lãnh sự (trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại);

- Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Mục II: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ VĂN BẢN THỎA THUẬN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO

1. Nội dung cơ bản về văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

- Theo khoản 1 Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và vợ chồng người mang thai hộ phải có các nội dung cơ bản sau đây:

+ Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên quan quy định tại Điều 95 của Luật Hôn nhân và gia đình;

+ Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97Điều 98 của Luật Hôn nhân và gia đình;

+ Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan;

+ Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

- Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

- Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

+ Vợ chồng đang không có con chung;

+ Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

- Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

+ Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

+ Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

+ Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

+ Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

- Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

3. Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ các bên trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

3.1. Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo quy định tại Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như sau:

+ Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

+ Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

+ Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

+ Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

+ Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

3.2. Nội dung cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như sau:

+ Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

+ Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

+ Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.

+ Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.

+ Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

4. Tình huống: quan điểm giải quyết của anh (chị) đối với việc công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mà các bên có đề nghị đưa vào nội dung: Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định

Trước hết, phải khẳng định cho phép “mang thai hộ” không phải là cho phép “đẻ thuê”. Cho phép “mang thai hộ” đối với một số đối tượng có chỉ định để bảo đảm quyền làm mẹ chính đáng của mọi phụ nữ và người mang thai hộ không vì mục đích lợi nhuận. Mang thai hộ là một thành tựu của y học, có thể nói là một tiến bộ vượt bậc để biến mơ ước không thể làm mẹ của rất nhiều phụ nữ được trở thành hiện thực. Bản chất “mang thai hộ” là hết sức nhân văn vì là một sự giúp đỡ của một người phụ nữ này đối với người phụ nữ khác để sinh ra những đứa trẻ. Việc mang thai và sinh nở cũng là việc làm có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết và giữ gìn hạnh phúc mỗi gia đình, bởi vì con cái là động lực để cha mẹ chúng làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn, góp phần vào sự ổn định, phồn vinh của xã hội.

Nếu chỉ để trong nội dung thỏa thuận của các bên “Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định” mà không kèm theo việc viện dẫn trong trường hợp cụ thể nào sẽ gây ra hiểu nhầm không đúng với bản chất của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, bởi theo khoản 1 Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có đề cập “Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế”.

Cụ thể theo Điều 1 và khoản 1 Điều 3 Thông tư số 32/2016/TT-BYT ngày 15 tháng 9 năm 2016 của Bộ Y tế quy định:

- Theo Điều 1 Thông tư này quy định việc chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản thuộc trách nhiệm của bên nhờ mang thai hộ cho người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phát sinh trong các trường hợp sau đây:

+ Giai đoạn chuẩn bị mang thai;

+ Quá trình áp dụng kỹ thuật chuyển phôi cho người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

+ Các kỹ thuật, thăm khám, sàng lọc, điều trị và xử trí các bất thường, dị tật của bào thai (nếu có) và theo dõi, chăm sóc thai nhi;

+ Quá trình sinh đẻ và chăm sóc trong vòng 42 ngày sau sinh cho người mang thai hộ hoặc cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ;

+ Khám sức khỏe tổng quát cho người mang thai hộ sau khi sinh;

+ Khám, điều trị, chăm sóc sức khỏe trong trường hợp người mang thai hộ có biến chứng sau sinh liên quan đến sức khỏe sinh sản.

- Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư này quy định các chi phí bắt buộc bên nhờ mang thai hộ chi trả:

+ Chi phí đi lại tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để được tư vấn, khám, kiểm tra, theo dõi sức khỏe, thực hiện dịch vụ, kỹ thuật y tế: xác định theo giá ghi trên vé, hóa đơn, hoặc giấy biên nhận thanh toán với chủ phương tiện.

+ Chi phí liên quan đến y tế gồm:

  • Chi phí thực hiện các dịch vụ tư vấn, khám bệnh, chữa bệnh, kỹ thuật y tế trong việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản được chi trả căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người mang thai hộ theo mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do cấp có thẩm quyền quy định áp dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế và khám bệnh, chữa bệnh;
  • Chi phí các loại thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế chưa được tính vào giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được chi trả căn cứ các hóa đơn, chứng từ thanh toán theo số lượng thực tế sử dụng cho người mang thai hộ theo chỉ định của bác sỹ, phù hợp với quy định, hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật của Bộ trưởng Bộ Y tế và giá mua theo quy định của pháp luật;
  • Các dịch vụ chưa được cấp có thẩm quyền quy định giá thì thanh toán theo hóa đơn, chứng từ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ chi phí thực tế thực hiện dịch vụ.

+ Chi phí dinh dưỡng để bảo đảm sức khỏe cho người mang thai hộ, chi phí các vật dụng chăm sóc vệ sinh cá nhân trước, trong và sau sinh cho người mang thai hộ theo thỏa thuận giữa bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ: xác định theo hóa đơn (nếu có) hoặc giấy biên nhận

Mặt khác cũng theo Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 32/2016/TT-BYT ngày 15 tháng 9 năm 2016 có quy định Các chi phí khác ngoài quy định tại Điều 1 và Khoản 1 Điều 3 của Thông tư này do hai bên tự thỏa thuận: xác định theo văn bản thỏa thuận giữa hai bên”.

Từ đó không thấy về mặt bản chất việc Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định mà chỉ đề cấp đến việc Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba phục vụ trong quá trình mang thai hộ của Bên mang thai hộ.

Do đó các bên có đề nghị đưa vào nội dung: “Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định” thì theo quan điểm của tôi có thể đưa vào thỏa thuận khác của các bên và kèm theo các trường hợp dẫn đến việc thanh toán trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, ví dụ như sau:

Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định, trong các trường hợp sau:

  • Giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa;
  • Hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con;
  • Chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ hoặc khoảng thời gian bên nhờ mang thai hộ chậm nhận đứa trẻ theo quy định và theo thỏa thuận;

5. Thực tiễn

- Hiện nay pháp luật quy định khá “giới hạn” bó hẹp những trường hợp được mang thai hộ. Cụ thể quy định người được nhờ mang thai hộ, phải là người thân thích cùng hàng của vợ hoặc chồng. Quy định này rất khó cho các cặp vợ chồng hiếm muộn. Đã có nhiều trường hợp tìm được người nhưng lại vướng: Không cùng hàng với vợ hoặc chồng, người được đáp ứng yêu cầu này thì lại quá tuổi sinh sản. Người đáp ứng điều kiện về tuổi sinh sản thì quan hệ huyết thống lại không nằm trong phạm vi 3 đời như quy định.

- Chính những khó khăn về mặt thực tiễn nên ngoài những quy định Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế thì Bên nhờ mang thai hộ còn thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe, bù đắp tổn thất tinh thần, tổn thất kinh tế (trong thời gian nghỉ thai sản, năng suất lao động trong quá trình mang thai, nghỉ khám thai,..), ... Việc thanh toán này nằm ngoài thỏa thuận các bên trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

6. Kiến nghị

- Mong muốn pháp luật mở rộng thêm các đối tượng thực hiện được việc mang thai hộ và cũng mong rằng khi xây dựng được những thay đổi thì các đơn vị hỗ trợ sinh sản cần tuân thủ một cách nghiêm ngặt những quy định đó", bổ sung quy định, mở rộng đối tượng cho phép mang thai hộ, giúp các gia đình hiếm muộn tìm được niềm vui con cái một cách an toàn và đúng các quy định pháp luật.

- Cần bổ sung thêm các quy định về chi trả và thanh toán một khoản nhất định các tổn thất về sức khỏe, tâm lý, kinh tế cho bên mang thai hộ ngoài các quy theo pháp luật hiện hành hoặc bổ sung thêm quyền của bên nhờ mang thai hộ như: Bên nhờ mang thai hộ cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định nhằm bù đắp những mất mát trên.

III. KẾT LUẬN

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một quan điểm mới hiện đại ngày nay. Đây là việc giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn có khả năng vẫn được làm cha mẹ. Việc này có ý nghĩa rất to lớn trong cuộc sống.

Việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

     Có thể nói hoạt động công chứng văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tạo khung pháp lý an toàn trong các giao dịch mang thai hộ và có cơ chế phân biệt được với trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại như hiện nay. Giúp các cơ quan chức năng có thể kiểm soát được một phần nào đó nhu cầu mang thai hộ hiện nay, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em. Khi được pháp luật điều chỉnh thì các bên sẽ có cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn để ràng buộc lẫn nhau, tránh tình trạng vi phạm như không chịu trả con hoặc không chịu nhận con…

Như vậy, việc các bên đề nghị đưa các nội dung vào trong văn bản thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải phù hợp với các quy định của pháp luật điều chỉnh để đúng với tinh thần tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, về mặt thực tiễn đây thì Bên nhờ mang thai hộ sẽ thanh toán cho Bên mang thai hộ một khoản tiền nhất định nhằm bù đắp sự mất mát về tinh thần, trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, hao tổn công việc làm ăn, ...

Bài làm này được tiến hành trên sự nghiên cứu và quan điểm chủ quan của cá nhân. Kính mong sự xem xét và đánh giá của các thầy cô để tôi có thể hiểu rõ hơn về vấn đề, hoàn thiện kiến thức của bản thân, trang bị hành trang phục vụ cho công tác hành nghề sau này.

 IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

 - Bộ luật Dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015;

- Luật Công chứng ngày 20 tháng 6 năm 2014;

- Luật Hôn nhân và gia đình ngày 19 tháng 6 năm 2014;

- Luật Hộ tịch ngày 20 tháng 11 năm 2014;

- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;

- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

- Nghị định số 98/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2015/ NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

- Thông tư số 32/2016/TT-BYT ngày 15 tháng 9 năm 2016 quy định việc chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;

Nguyễn Văn Ngọc

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow