Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Hoạt động công chứng góp phần tích cực và quan trọng việc phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, Văn bản côn chứng cung cấp tài liệu giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp.

23/07/2022 - 16:48 GMT+7
 0
 57
Theo dõi DocLuat trên Google News
Văn bản công chứng và giá trị pháp lý  của văn bản công chứng
Ảnh minh họa nguồn Internet

Mục lục

1. Văn bản công chứng là gì?

2. Đặc điểm của văn bản công chứng

     2.1. Tính chính xác

     2.2. Được tuân thủ về mặt hình thức

     2.3. Tính phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội của văn bản công chứng

     2.4. Tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục công chứng

3. Nhóm văn bản công chứng

4. Giá trị văn bản công chứng

     4.1. Giá trị thi hành

     4.2. Giá trị chứng cứ

1. Văn bản công chứng là gì?

Văn bản là gì? Theo Từ điển tiếng Việt, văn bản là bản viết hoặc bản in, mang nội dung là những gì cần được ghi, chép để lưu lại làm bằng. 

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Công chứng năm 2006 đã xác định văn bản công chứng là “hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của Luật Công chứng”. 

Tuy nhiên theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014, văn bản công chứng là “hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Công chứng” 

Điểm mới về khái niệm văn bản công chứng có thêm phần bản dịch do vì trong Luật Công chứng năm 2014 đã thêm một số chức năng mới cho công chứng viên trong đó có chứng nhận bản dịch. 

2. Đặc điểm của văn bản công chứng

Văn bản công chứng có các đặc điểm sau:

2.1. Tính chính xác

- Chính xác về thời điểm công chứng 

Ngày, tháng, năm phải chính xác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng, giao dịch ngày, tháng, năm công chứng viên ký là ngày văn bản công chứng có hiệu lực thi hành, ngày, tháng, năm trong lời chứng của công chứng viên phải được ghi bằng chữ. Trong một số trường hợp (công chứng di chúc, theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng hoặc công chứng viên thấy cần thiết), thời gian công chúng còn phải chính xác cả giờ, phút (khoản 2 Điều 45 Luật Công chứng năm 2014). 

- Các số liệu, sau phần ghi bằng số phải ghi bằng chữ để tránh sự sửa chữa, sai lệch. 

- Chính xác về chủ thể yêu cầu công chứng 

Chủ thể là thể cá nhân hoặc là pháp nhân phải có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; thông tin về chủ thể phải đầy đủ, đúng với những giấy tờ mà họ đã cung cấp vì nếu có sai sót sẽ có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, tranh chấp, mất hiệu lực của văn bản công chứng. 

- Chính xác về địa điểm công chứng 

Trong văn bản công chứng phải ghi rõ địa điểm công chứng. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở, tuy nhiên tại khoản 2 Điều 44 Luật Công chứng năm 2014 có quy định: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng - Trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án Phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”. 

- Chính thức hóa, công khai hóa các sự kiện pháp lý

Ý chí của các bên phải được thể hiện rõ ràng trong văn bản công chứng vì đây sẽ là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động công chứng. 

2.2. Được tuân thủ về mặt hình thức

Văn bản công chứng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về hình thức để đảm bảo tính chính xác và giá trị pháp lý của văn công chứng. 

Ví dụ: bố mẹ tặng cho con tài sản là nhà đất thì hình thức văn bản bắt buộc phải là hợp đồng tặng cho mà không phải là một văn bản chuyển nhượng nào khác; hoặc các bên yêu cầu công chứng chứng nhận hợp đồng cầm cố tài sản thì công chứng viên không thể soạn thảo và công chứng hợp đồng thế chấp được. 

Ngoài ra, văn bản công chứng cũng cần tuân thủ các quy định về chữ viết, sửa lỗi kỹ thuật, ghi số tờ, số trang trong văn bản, ký tên hoặc điểm chỉ, lời chứng của công chứng viên... Mọi chi tiết trong văn bản công chứng phải được thể hiện rõ ràng, chính xác, không viết tắt, không viết xen hoặc đè dòng; việc sửa lỗi kỹ thuật cũng phải thực hiện đúng quy định để người nhận hoặc thực hiện các văn bản đó có thể nhận biết đúng các nội dung đã được chỉnh sửa, tránh nhầm lẫn hoặc gây khó hiểu cho họ. 

2.3. Tính phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội của văn bản công chứng

Sự phù hợp của nội dung văn bản công chứng với pháp luật, đạo đức xã hội là điều kiện cơ bản, quan trọng để văn bản công chứng đó có giá trị pháp lý vì “công chứng là việc công chứng viên của một tổ hành nghề công chứng, chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt...” (khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014). 

Do vậy, khi thực hiện việc công chứng, công chứng viên phải có trách nhiệm xem xét các nội dung của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và đạo đức xã hội hay không. 

Ví dụ: Công chứng viên không thể chứng nhận hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất nếu bên bán chỉ có một mình người chồng mà tài sản chuyển nhượng là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân nhưng người chồng không chứng minh được đó là tài sản riêng của mình; hoặc công chứng viên cũng không thể chứng nhận văn bản từ cha mẹ của người con hoặc ngược lại. Hoặc công chứng viên cũng không thể chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. 

2.4. Tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục công chứng

Công chứng viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng của mình chứng nhận, do đó công chứng viên phải đảm bảo thực hiện theo đúng những nguyên tắc và thủ tục công chứng. 

Việc tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc, thủ tục này đem lại sự an toàn cho công chứng viên đồng thời bảo đảm tính pháp lý cho văn bản mà công chứng viên chứng nhận, tránh được các tranh chấp có thể xảy ra. 

3. Nhóm văn bản công chứng

Theo khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014, văn bản công chứng gồm hai nhóm: 

- Hợp đồng, giao dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Công chứng. 

- Bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Công chứng. 

4. Giá trị văn bản công chứng

Theo khoản 2, 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định:

"Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu".

Như vậy, hợp đồng, giao dịch được công chứng có hai giá trị pháp lý là: Giá trị thi hành và Giá trị chứng cứ, cụ thể là:

4.1 Giá trị thi hành

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 thì:

-  Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan;

- Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

Giá trị thi hành ở đây không đơn thuần chỉ là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch mà còn có giá trị thi hành đối với các chủ thể liên quan, như cơ quan thuế, cơ quan tài nguyên và môi trường, văn phòng đăng ký đất đai... đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sàn hoặc cơ quan tổ chức khác ... Chúng ta cần xác định các bên "liên quan" phải thi hành các hợp đồng, giao dịch được công chứng là ai? Cơ quan nào ngoài các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng?

4.2 Giá trị chứng cứ

Chứng cứ là vấn đề mấu chốt trong việc giải quyết một tranh cãi, tranh chấp, bất đồng... khi trong sự việc đó thiếu những căn cứ để xác định quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý. Để có thể khẳng định quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý đó, thì cần thiết phải có một bằng chứng, chứng minh sự tồn tại của nó, nếu không sẽ bị coi là không có sự tồn tại của quyền, lợi ích hoặc sự kiện pháp lý đó.

Chứng cứ là cái cụ thể (như lời nói hoặc việc làm, vật làm chứng, tài liệu, hình ảnh, nhân chứng...) chỉ rõ điều gì đó có thật (theo Từ điển tiếng Việt)

Trong hoạt động tố tụng, chứng cứ đóng vai trò quyết định trong việc làm sáng tỏ các quan hệ, khúc mắc, nhầm lẫn, tranh chấp cần giải quyết và làm cơ sở để Tòa án phân xử.

Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định:

"Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp".

Lịch sử công chứng là lịch sử phát triển của chứng cứ, chứng cứ viết (văn bản) đã dần thay thế chứng cứ lời nói (miệng).

Chứng cứ được chia thành hai loại: chứng cứ vật chất (văn bản, vật chứng, tài liệu, hình ảnh...) và chứng cứ lời nói (miệng).

Văn bản được chia thành văn bản tư và văn bản công (hay thường gọi là tư chứng thư và công chứng thư).

Văn bản tư (tư chứng thư) là văn bản do một cá nhân tự làm hoặc các cá nhân tự lập với nhau. Văn bản công (công chứng thư) là văn bản được chứng nhận, chứng thực, xác nhận do người có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật, trong đó có văn bản công chứng.

Văn bản công chứng là văn bản do công chứng viên đang hành nghề tại một tổ chức công chứng chứng nhận. Theo khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014, hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Bởi khi công chứng, người thực hiện công chứng phải tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng và các quy định khác có liên quan đồng thời phải khách quan, trung thực, trong trường hợp biết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung công chứng là trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được thực hiện công chứng.

Tuy nhiên, văn bản công chứng không có giá trị chứng cứ nếu văn bản đó không hợp pháp, thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Hay nói cách khác, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cho đến khi có ý kiến phản bác đưa ra được chứng cứ ngược lại và phải tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự.

Lưu ý, Như chúng ta đã đề cập ở trên, theo Luật Công chứng hiện hành, văn bản công chứng ngoài hợp đồng, giao dịch còn có bản dịch. Về giá trị của bản dịch, khoản 4 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 chỉ nêu một giá trị, đó là: "Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch".

Như vậy đều là văn bản công chứng nhưng chỉ có "hợp đồng, giao dịch" mới được công nhận có giá trị thi hành và giá trị chứng cứ.

Nguyễn Văn Ngọc

Phản ứng của bạn là gì?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow