Có được ghi giá trị hợp đồng bằng ngoại tệ không?
Trong hợp đồng giao dịch dân sự có được ghi giá trị hợp đồng bằng ngoại tệ không? Trường hợp nào được dùng ngoại tệ hay ngoại hối?
-
Một trong những vấn đề pháp lý thường xuyên phát sinh trong quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng chính là việc ghi giá bằng ngoại tệ – đặc biệt trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp các bên đều được tự do thỏa thuận sử dụng ngoại tệ, bởi pháp luật Việt Nam có những quy định chặt chẽ về quản lý ngoại hối nhằm bảo đảm ổn định tiền tệ và chủ quyền tài chính quốc gia. Vậy, ghi giá ngoại tệ trong hợp đồng có được không, được phép trong trường hợp nào và cần lưu ý gì để tránh rủi ro pháp lý? Đây là nội dung quan trọng mà doanh nghiệp, cá nhân cần nắm rõ trước khi thiết lập quan hệ hợp đồng.
-
1. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
-
1.1. Ngoại hối là gì?
Hệ thống pháp luật Việt Nam đưa ra một định nghĩa rất rộng và bao quát về ngoại hối nhằm kiểm soát mọi nguồn lực tài chính có gốc ngoại tệ hoặc có khả năng dịch chuyển giá trị xuyên biên giới. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013), ngoại hối được hiểu là các phương tiện có giá trị được sử dụng trong thanh toán và giao dịch quốc tế, bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau chứ không chỉ riêng tiền nước ngoài. Cụ thể, theo quy định hiện hành, ngoại hối bao gồm:
- Ngoại tệ: Bao gồm đồng tiền của quốc gia khác, đồng tiền chung châu Âu (EUR) hoặc các đồng tiền chung khu vực và quốc tế khác được sử dụng trong hoạt động thanh toán.
- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ: Bao gồm các công cụ thanh toán quốc tế phổ biến như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán tương đương khác.
- Giấy tờ có giá bằng ngoại tệ: Bao gồm các công cụ tài chính như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá trị chuyển đổi bằng ngoại tệ khác.
- Vàng: Bao gồm vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, và các dạng vàng khối, thỏi, hạt, miếng khi được mang vào hoặc ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
- Đồng Việt Nam (VND): Đồng bản tệ chỉ được coi là ngoại hối trong trường hợp chuyển vào hoặc chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, hoặc khi được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch thanh toán quốc tế.
Về bản chất, ngoại hối là công cụ trung gian của các quan hệ kinh tế quốc tế, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, vay nợ quốc tế và thanh toán xuyên biên giới. Đồng thời, việc quản lý ngoại hối tại Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, nhằm bảo đảm chủ quyền tiền tệ quốc gia và ổn định thị trường tài chính – tiền tệ. Vì vậy, mọi hoạt động liên quan đến ngoại hối (ghi giá, thanh toán, chuyển tiền…) đều phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
-
1.2. Nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối theo Pháp lệnh Ngoại hối
Hạn chế sử dụng ngoại hối là nguyên tắc pháp lý tối cao trong quản lý tiền tệ của Việt Nam. Nguyên tắc này được quy định rõ tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối, thiết lập một hàng rào ngăn chặn việc sử dụng ngoại hối thay thế cho VND trong nền kinh tế nội địa. Cơ chế này buộc mọi chủ thể khi tham gia vào các giao dịch kinh tế trên lãnh thổ Việt Nam phải sử dụng đồng bản tệ, trừ các trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép.
Mục tiêu chính của nguyên tắc này là ngăn chặn hiện tượng đô-la hóa nền kinh tế, hạn chế tình trạng người dân và doanh nghiệp tích lũy ngoại tệ làm phương tiện dự trữ an toàn để đối phó với lạm phát, từ đó gây lạm phát kỳ vọng và làm suy yếu khả năng điều hành lãi suất cũng như tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước. Việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngoại hối giúp giữ vững giá trị của đồng VND, đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ quốc gia.
-
-
2. Ghi giá ngoại tệ trong hợp đồng có được không?
Nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, thu hút FDI và tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại quốc tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các quy định ngoại lệ cho phép một số đối tượng đặc thù được báo giá, định giá, ghi giá và thanh toán bằng ngoại hối.
Hệ thống pháp luật quy định một danh mục giới hạn các đối tượng và giao dịch được phép sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, được tổng hợp chi tiết trong bảng dưới đây:
Nhóm đối tượng được phép Giao dịch / Hành vi được phép sử dụng ngoại tệ Phương thức thanh toán áp dụng Cơ sở pháp lý (VBHN 14/VBHN-NHNN) Doanh nghiệp chế xuất (DNCX) - Ghi giá trong hợp đồng và thanh toán khi mua hàng hóa từ thị trường nội địa để sản xuất, gia công, tái chế, lắp ráp hàng xuất khẩu.
- Báo giá, định giá, ghi giá và thanh toán giữa các DNCX với nhau.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 12 Điều 4
Nhà thầu quốc tế / Chủ đầu tư - Chào thầu bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ đối với các gói thầu theo quy định của pháp luật về dầu khí nhằm mục đích thanh toán, chi trả và chuyển tiền ra nước ngoài.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 7 Điều 4
Người không cư trú - Ghi giá trong hợp đồng và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ cho người cư trú.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 15 Điều 4
Người cư trú cung cấp dịch vụ cho người không cư trú - Báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú theo quy định.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 15 Điều 4
Bên ủy thác nhập khẩu - Người cư trú nhận ủy thác nhập khẩu được ghi giá trong hợp đồng ủy thác bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản từ bên ủy thác đối với giá trị hợp đồng nhập khẩu.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 6 Điều 4
Doanh nghiệp bảo hiểm - Báo giá, định giá, ghi giá phí dịch vụ bảo hiểm trong hợp đồng bằng ngoại tệ đối với hàng hóa, dịch vụ bắt buộc phải mua tái bảo hiểm ở nước ngoài.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 8 Điều 4
Người sử dụng lao động - Thỏa thuận và chi trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại đơn vị.
Chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Khoản 14 Điều 4
Cơ quan nhà nước tại cửa khẩu - Niêm yết và thu bằng ngoại tệ đối với các loại thuế, lệ phí thị thực xuất cảnh, phí cung ứng dịch vụ từ người không cư trú tại cửa khẩu, kho ngoại quan.
Chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Khoản 2 Điều 4
Tổ chức có tư cách pháp nhân - Điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ giữa tài khoản của tổ chức với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.
Chuyển khoản bằng ngoại tệ.
Khoản 5 Điều 4
Hãng tàu biển nước ngoài ủy quyền - Chi hộ bằng ngoại tệ chuyển khoản thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ tại cảng biển quốc tế, khu cách ly sân bay.
- Chi hộ bằng ngoại tệ tiền mặt trả lương, thưởng cho người không cư trú.
Chuyển khoản hoặc tiền mặt.
Khoản 11 Điều 4
Sự phân định pháp lý giữa giao dịch trong nước và giao dịch có yếu tố nước ngoài là ranh giới quyết định tính hợp pháp của việc ghi giá ngoại tệ.
Giao dịch trong nước: Diễn ra giữa các chủ thể đều là người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và không thuộc các trường hợp đặc thù được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Trong nhóm giao dịch này, nhà lập pháp áp đặt lệnh cấm tuyệt đối đối với việc ghi giá bằng ngoại tệ nhằm bảo vệ tính tối tôn của đồng VND. Mọi thỏa thuận dân sự, thương mại thuần túy trong nước bắt buộc phải sử dụng VND làm đồng tiền định giá và đồng tiền thanh toán.
Giao dịch có yếu tố nước ngoài: Thường có sự tham gia của ít nhất một bên là người không cư trú, hoặc đối tượng của giao dịch tọa lạc tại nước ngoài, hoặc dòng vốn có sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia. Để tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập và phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá của doanh nghiệp trong các quan hệ thương mại quốc tế, pháp luật mở ra các hành lang đặc cách, cho phép ghi giá bằng ngoại tệ trong hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng ủy thác nhập khẩu hoặc trong quan hệ lao động với chuyên gia nước ngoài.
Sự phân biệt này dựa trên việc xác định chính xác tư cách chủ thể "người cư trú" và "người không cư trú". Ví dụ, một cá nhân nước ngoài sinh sống tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên (thỏa mãn điều kiện là người cư trú) khi thực hiện giao dịch mua bán nhà đất hoặc thuê tài sản trong nước với một công dân Việt Nam thì giao dịch đó được coi là giao dịch trong nước giữa hai người cư trú, do đó không được phép sử dụng ngoại tệ. Ngược lại, nếu cá nhân nước ngoài đó cư trú dưới 12 tháng (người không cư trú), họ được phép nhận báo giá và thực hiện thanh toán bằng ngoại tệ đối với một số dịch vụ nhất định.
-
3. Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng ghi giá bằng ngoại tệ trái phép
Việc xác lập các giao dịch ghi giá bằng ngoại tệ trái pháp luật dẫn đến những rủi ro pháp lý to lớn đối với cả hiệu lực dân sự của hợp đồng và trách nhiệm hành chính trước các cơ quan kiểm tra, thanh tra chuyên ngành.
-
3.1. Rủi ro vô hiệu hợp đồng theo quy định
Sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy lập pháp giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã định hình lại hoàn toàn cách xử lý các hợp đồng có điều khoản ngoại tệ vi phạm pháp luật :
Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 122, Điều 128): Mọi giao dịch dân sự có nội dung vi phạm "điều cấm của pháp luật" đều bị tuyên vô hiệu. Khái niệm "pháp luật" được giải thích rất rộng, bao gồm cả các văn bản dưới luật do cơ quan hành chính ban hành như Nghị định, Thông tư hay Pháp lệnh. Do đó, trước đây các Tòa án thường tuyên vô hiệu toàn bộ các hợp đồng có thỏa thuận giá bằng ngoại tệ một cách cơ học và cứng nhắc, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính ổn định của các giao dịch thương mại.
Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 117, Điều 123): Pháp luật thu hẹp phạm vi tuyên vô hiệu, theo đó giao dịch dân sự chỉ bị coi là vô hiệu khi mục đích và nội dung vi phạm "điều cấm của luật" (văn bản do Quốc hội ban hành dưới dạng Luật). Do Pháp lệnh Ngoại hối (do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành) và Thông tư 32/2013/TT-NHNN (do Ngân hàng Nhà nước ban hành) không phải là các văn bản Luật, việc vi phạm các quy định này không tự động dẫn đến việc hợp đồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ.
Từ sự thay đổi này, thực tiễn xét xử tại các cơ quan tài phán (bao gồm cả Tòa án nhân dân và các Hội đồng Trọng tài như VIAC) đã chuyển dịch theo hướng bảo vệ tối đa hiệu lực của giao dịch:
Vô hiệu một phần: Trong trường hợp các bên ghi giá bằng ngoại tệ nhưng trong quá trình thực hiện thực tế, các bên đã tự nguyện quy đổi ra VND tại thời điểm thanh toán hoặc có thỏa thuận thanh toán bằng VND, Hội đồng Trọng tài hoặc Tòa án sẽ xác định hợp đồng chỉ vi phạm về mặt kỹ thuật định giá. Hợp đồng sẽ không bị vô hiệu toàn bộ mà chỉ vô hiệu một phần đối với điều khoản giá cả, các phần còn lại của hợp đồng vẫn giữ nguyên hiệu lực và các bên phải tiếp tục thực hiện.
Công nhận hiệu lực hoàn toàn: Nếu các bên ghi giá bằng VND nhưng ghi nhận cơ chế bảo đảm giá trị theo ngoại tệ (neo tỷ giá) và thực hiện thanh toán bằng VND, cơ quan tài phán xác định đây là thỏa thuận tự nguyện hợp pháp, không vi phạm điều cấm của luật và công nhận hiệu lực hoàn toàn của hợp đồng.
Tuyên vô hiệu toàn bộ: Chỉ xảy ra khi hợp đồng vi phạm nghiêm trọng, các bên không thể thỏa thuận được phương thức quy đổi, hoặc việc thực hiện hợp đồng bắt buộc phải thanh toán trực tiếp bằng ngoại tệ tiền mặt trái phép, dẫn đến giao dịch không thể thực hiện được bằng VND. Khi đó, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường.
-
3.2. Các mức xử phạt vi phạm hành chính
Bên cạnh rủi ro về mặt dân sự, các hành vi vi phạm quy định sử dụng ngoại hối sẽ bị xử phạt hành chính nghiêm khắc theo Điều 27 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP. Cần lưu ý rằng mức phạt tiền dưới đây áp dụng đối với cá nhân vi phạm; đối với tổ chức, mức phạt tiền sẽ nhân đôi (bằng 02 lần mức phạt của cá nhân) đối với cùng một hành vi.
Các khung xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định hoạt động ngoại hối được hệ thống hóa chi tiết trong bảng sau:
Hành vi vi phạm cụ thể Quy mô giá trị giao dịch Mức phạt tiền (Cá nhân) Mức phạt tiền (Tổ chức) Hình thức xử phạt bổ sung & Biện pháp khắc phục hậu quả Thanh toán, mua, bán ngoại tệ trái quy định pháp luật.
Dưới 1.000 USD (hoặc ngoại tệ tương đương).
Phạt cảnh cáo.
Phạt cảnh cáo.
Tịch thu số ngoại tệ hoặc số tiền VND tham gia vào giao dịch vi phạm.
Thanh toán, mua, bán ngoại tệ trái quy định pháp luật.
Từ 1.000 USD đến dưới 10.000 USD, hoặc dưới 1.000 USD trong trường hợp tái phạm.
Từ 10.000.000 VND đến 20.000.000 VND.
Từ 20.000.000 VND đến 40.000.000 VND.
Tịch thu số ngoại tệ hoặc số tiền VND tham gia vào giao dịch vi phạm.
Mua, bán ngoại tệ tại các tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ.
Từ 10.000 USD đến dưới 100.000 USD (hoặc tương đương).
Từ 20.000.000 VND đến 30.000.000 VND.
Từ 40.000.000 VND đến 60.000.000 VND.
Tịch thu số ngoại tệ hoặc số tiền VND tham gia vào giao dịch vi phạm.
Quảng cáo, niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ trái phép.
Không phân biệt quy mô giá trị hợp đồng.
Từ 30.000.000 VND đến 50.000.000 VND.
Từ 60.000.000 VND đến 100.000.000 VND.
Buộc loại bỏ điều khoản ghi giá bằng ngoại tệ hoặc gỡ bỏ thông tin quảng cáo, niêm yết vi phạm. Thanh toán, mua, bán ngoại tệ trái quy định pháp luật.
Từ 100.000 USD trở lên (hoặc tương đương).
Từ 80.000.000 VND đến 100.000.000 VND.
Từ 160.000.000 VND đến 200.000.000 VND.
Tịch thu số ngoại tệ hoặc số tiền VND tham gia vào giao dịch vi phạm.
Kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh tỷ giá, ngoại hối trái quy định pháp luật.
Không phân biệt giá trị.
Từ 200.000.000 VND đến 250.000.000 VND.
Từ 400.000.000 VND đến 500.000.000 VND.
Đình chỉ hoạt động kinh doanh, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi giấy phép hoạt động liên quan.
-
-
4. Cách ghi giá ngoại tệ trong hợp đồng đúng luật
Việc ghi giá ngoại tệ trong hợp đồng đúng pháp luật tại Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của pháp luật về quản lý ngoại hối. Theo Pháp lệnh Ngoại hối 2005, nguyên tắc cơ bản là trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được sử dụng đồng Việt Nam (VND) làm phương tiện thanh toán hợp pháp, trừ các trường hợp được phép. Trên cơ sở đó, cách ghi giá ngoại tệ đúng luật thường được áp dụng theo hai phương án an toàn.
Thứ nhất, đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài hoặc thuộc trường hợp được phép, các bên có thể ghi trực tiếp giá trị và thanh toán bằng ngoại tệ theo đúng quy định chuyên ngành.
Thứ hai, đối với hợp đồng thuần túy trong nước (không thuộc trường hợp được phép), các bên chỉ nên ghi giá bằng VND, đồng thời có thể dẫn chiếu ngoại tệ như một đơn vị tham chiếu (ví dụ: “giá trị hợp đồng tương đương 10.000 USD, thanh toán bằng VND theo tỷ giá bán ra của ngân hàng thương mại tại thời điểm thanh toán”). Cách ghi này vừa đảm bảo tính linh hoạt theo biến động tỷ giá, vừa không vi phạm quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối.
Ngoài ra, để đảm bảo chặt chẽ, điều khoản hợp đồng nên quy định rõ: loại tỷ giá áp dụng (mua vào/bán ra), ngân hàng xác định tỷ giá, thời điểm xác định tỷ giá, và cơ chế xử lý khi có biến động lớn. Nếu không tuân thủ đúng quy định, việc ghi giá và thanh toán bằng ngoại tệ trái phép có thể bị xử phạt hành chính theo quy định về tiền tệ – ngân hàng, đồng thời điều khoản thanh toán có nguy cơ bị vô hiệu từng phần theo Bộ luật Dân sự 2015.
Tóm lại, ghi giá ngoại tệ đúng luật không nằm ở việc có được ghi hay không, mà nằm ở cách ghi và bối cảnh áp dụng: chỉ được ghi trực tiếp khi pháp luật cho phép; còn lại phải quy đổi và thanh toán bằng VND, kèm cơ chế tỷ giá rõ ràng để vừa hợp pháp vừa hạn chế rủi ro tranh chấp.
-
Có thể thấy, việc ghi giá bằng ngoại tệ trong hợp đồng không bị cấm hoàn toàn, nhưng chỉ được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hối tại Việt Nam. Việc hiểu đúng và áp dụng đúng quy định không chỉ giúp hợp đồng đảm bảo hiệu lực pháp lý, mà còn hạn chế tối đa rủi ro bị xử phạt hoặc tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện. Do đó, trước khi lựa chọn đồng tiền ghi giá và thanh toán, các bên cần đánh giá yếu tố pháp lý, tính chất giao dịch và đối tượng tham gia hợp đồng, đồng thời nên tham vấn ý kiến chuyên gia để đảm bảo an toàn pháp lý. Trong bối cảnh pháp luật ngày càng hoàn thiện và kiểm soát chặt chẽ, việc tuân thủ đúng quy định về ngoại tệ không chỉ là nghĩa vụ mà còn là yếu tố then chốt bảo vệ quyền lợi lâu dài của doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Phản ứng của bạn là gì?
Thích
2
Không thích
0
Yêu
0
Vui
0
Bất ngờ
0
Buồn
0
Tức giận
0
Bình luận (0)